26 June, 2020

Leaving China

Tiêu đề: Leaving China
Tác giả: James McMullan
Xuất bản: Algonguin Books (a division of Workman Publishing)
Năm xuất bản: 2014.
--------------------------------------------------

Trang bìa cuốn sách Leaving China

Leaving China là hồi ức (a memoir in paintings and words) về gia đình và thời thơ ấu của chính tác giả, họa sĩ James McMullan, trọng tâm là giai đoạn từ khi thế chiến thứ 2 bắt đầu cho đến lúc nó kết thúc.

Ông bà nội của tác giả, James và Lily McMullan, từ Ireland và England đến Trung Quốc để truyền đạo và gặp nhau tại Yangchow (Dương Châu?) vào năm 1887. Sau đó họ chuyển đến thị trấn Cheefoo với hai bàn tay trắng và phải tự tìm kế sinh nhai nơi đất khách quê người, trong khi vẫn phải luôn đảm bảo nhiệm vụ chính của mình. Sau những nổ lực không ngừng nghỉ và nhờ vào sự tháo vát của hai vợ chồng, họ đã gầy dựng nên được một cơ ngơi to lớn với việc xây dựng trại mồ côi, xây trường học, lập nên tổ chức Cheefoo Industrial Mission và sau này là công ty James McMullan Company. Họ có bốn người con và đều thành đạt. Trong đó James Jr. là người con thứ 3 sau này đã đi Canada học đại học về âm nhạc rồi trở về cùng cô dâu Rose Fenwick và… hai người con riêng của cô ấy. James Jr và Rose chính là cha và mẹ của cậu bé James McMullan, người sau đó được sinh ra tại thị trấn Cheefoo này. Dĩ nhiên với một gia thế như vậy, James hoàn toàn “sống trong nhung lụa” với một bà vú nuôi người Trung Quốc, một tài xế đưa đón khi đến trường và nhiều người hầu khác trong gia đình.

Tác giả và mẹ, Rose, lúc còn ở Cheefoo (China) khoảng năm 1937
(source: http://artpulsemagazine.com/an-interview-with-james-mcmullan)

Có một chi tiết quan trọng đó là, chính trong giai đoạn này niềm đam mê hội họa trong cậu bé James được hình thành. Cụ thể hơn, chính những bức tranh thủy mặc treo trên tường nhà đã mang lại cho cậu bé sự tò mò và tưởng tượng. Màu sắc của núi non, sương mây mờ ảo và thấp thoáng đâu đó bóng dáng ông lão đang ngồi thưởng trà dưới gội tùng gội bách chính là sự sống động của thiên nhiên đã để lại trong James nhiều ấn tượng sâu sắc.


Một vài hình ảnh trong sách


Thế chiến thứ 2 bùng nổ. Thị trấn Cheefoo thuộc hoàn toàn quyền kiểm soát của đế quốc Nhật. Đại gia đình McMullan cũng như nhiều người tây phương thuộc tầng lớp thượng lưu tại đây cảm thấy rất bức xúc trước sự cai trị và áp chế của binh lính và sĩ quan Nhật. Cha của tác giả quyết định tham gia vào lực lượng quân đội Anh quốc, thuộc phe đồng minh, và trở thành sĩ quan cấp cao trong cục tình báo quân sự tại Trung Quốc. Ông quyết định để hai mẹ con tác giả trở về quê ngoại (Canada) và đó là khởi nguồn của hành trình vòng quanh thế giới của hai mẹ con, từ Mỹ, Canada rồi quay về Ấn Độ, Trung Quốc, đến khắp mọi nơi để lánh nạn chiến sự, cuối cùng quay lại hội ngộ với người cha. Tuy nhiên, cậu bé James chỉ được gặp lại cha một lần duy nhất tại Darjeeling (Ấn Độ) mà thôi. Người sĩ quan ấy về sau đã hi sinh trong một tai nạn máy bay khi đang trên đường trở về đơn vị từ chuyến công tác tại trại tù binh Nhật. Lúc bấy giờ thế chiến thứ 2 cũng chỉ vừa kết thúc chưa được bao lâu. James được người đồng đội của cha, cũng là người đến báo hung tin, đưa về Chungking (Trung Quốc) nơi mẹ cậu đang đợi. Hai mẹ con sau đó chuyển đến Thượng Hải sinh sống. Một thời gian sau, khi quân đội Cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông lãnh đạo đang dần chiếm ưu thế và sự rút lui của Tưởng Giới Thạch chỉ còn là vấn đề thời gian, hai mẹ con đã quyết định trở về quê ngoại ở Salt Spring Island (Canada). Đó cũng chính là mong muốn của cậu bé James.

Trong suốt hành trình của hai mẹ con tác giả, chúng ta không hề thấy hình ảnh đại loại “con nhà nghèo vượt khó” theo kiểu lấy nước mắt người đọc. Ngược lại, ta càng thấy rõ rằng, tác giả là tầng lớp “con ông cháu cha,” gia đình thuộc tầng lớp thượng lưu thời bấy giờ. Thêm nữa là nhờ vào tài xoay sở, lanh lẹ của người mẹ (người mà chính tác giả nhận xét là cực giỏi tận dụng các mối quan hệ) mà hành trình của hai mẹ con hầu như khá êm đẹp (dù có lúc cũng gặp những tai nạn như bị té giường trong đêm trên tàu hỏa tại Ấn Độ) khi có được sự giúp đỡ của họ hàng, người quen và cả những nhà chức trách địa phương. Bên cạnh đó, người đọc cũng không bị áp đảo bởi những hình ảnh từ ngữ “đao to búa lớn.” Toàn bộ cuốn sách là một giọng văn nhẹ nhàng, đều đều như đúng bản chất của tác phẩm: kể lại hồi ức của tuổi thơ từ một người họa sĩ già lúc này đã hơn 70 tuổi. Sự hấp dẫn trong từng câu chuyện của tác giả ấy chính là hình ảnh về con người và cuộc sống qua cái nhìn rất thực, rất dễ thương của nhân vật cậu bé James. Những kỉ niệm về tình cha-con, mẹ-con, những người bạn thân gặp được trong mỗi lần bôn ba làm cho người đọc cảm động, hoài niệm. Bởi trong những câu chuyện của tác giả, ai đó có thể sẽ nhớ lại những suy nghĩ trẻ thơ của chính bản thân mình.

Một trang kép trong Leaving China với bên trái là câu chuyện và bên phải là hình minh họa


Sách không dày, chỉ 120 trang, được trình bày theo dạng mỗi trang bên trái là chuyện và mỗi trang bên phải là hình minh họa do chính tác giả thể hiện. Tôi thực sự ấn tượng với từng bức vẽ của ông bởi trông nó không chỉ là một bức tranh mà là một tác phẩm nghệ thuật thực thụ với nhiều tâm huyết. Nó thường làm cho tôi phải chiêm ngưỡng rất lâu và tưởng tượng ra cả một cuốn phim xưa cũ trong đó vậy. Những gam màu sẫm, bao gồm vàng, lam, lục, và tím gợi lên một cảm giác xa xưa phù hợp cho việc mô tả những khung cảnh của cuộc sống đầu thế kỉ 20.

Cheefoo trong hồi ức của tác giả


Vài suy nghĩ riêng:

Leaving China làm tôi liên tưởng đến hoàn cảnh gia đình mình, cũng là những kẻ tha hương với những đứa con được sinh ra trên đất khách. Tôi nghĩ đến sự ra đi, xây dựng sự nghiệp của những di dân từ xưa đến nay. Tôi nghĩ đến sự gìn giữ sợi dây ràng buộc giữa các thế hệ trước và sau trong những gia đình ấy trước ảnh hưởng mạnh mẽ và trực diện của cuộc sống hiện tại. Tôi cho rằng với mỗi con người, dù là đông hay tây, thì tình thân vẫn luôn là một điều thiêng liêng nhất, trong đó có sự hi sinh và lòng biết ơn.

Tôi không biết có phải mình đã quá lãng mạn hay không khi (có vẻ như) đang suy diễn hơi nhiều về những câu chuyện giản đơn trong Leaving China. Nhưng tôi tin rằng mình vẫn chưa thể nhìn thấy hết được các tầng ý nghĩa sâu xa ẩn mình trong từng kí ức mà tác giả đã kể lại một cách sống động. Cũng giống như khi nghe một bản giao hưởng trứ danh, thường tôi chỉ đủ sức để cảm thấy thích thú bởi giai điệu vang lên làm đẹp cho cảm xúc, chứ chưa thể biết hết cái hay trong từng bước đi của nốt nhạc.

Sau khi đọc xong Leaving China, tôi đã vì ấn tượng mạnh mẽ của câu chuyện mà đã đi tìm hiểu thêm những chi tiết “ngoại truyện” của nó. Tôi được biết tác giả cuốn sách là một họa sĩ tài danh, thuộc hàng bestselling của New York Times, đặc biệt là trong lĩnh vực vẽ minh họa. Riêng về cuốn Leaving China thì chỉ vừa cách đây vài tuần khi bài viết này được viết xong, đã có hẳn một cuộc triển lãm về nó tại bảo tàng Norman Rockwell Museum (MA, USA). Đó là dịp để chúng ta nghe chính tác giả chia sẻ thêm nhiều chi tiết liên quan đến cuốn sách cũng như ký ức thời thơ ấu của mình.

Tôi cũng cố gắng đi tìm hiểu xem những địa danh nêu trong sách để biết nó ở đâu. Ví dụ, thị trấn cảng Cheefoo chính là thị trấn (quận) Chi Phù (Zhifu - 芝罘区), đó là một bán đảo thuộc thành phố Yên Đài (Yantai - 烟台市), tỉnh Sơn Đông (Shandong - 山东省). Tôi chợt nhớ tới những người thuộc tỉnh Sơn Đông mà tôi có dịp tiếp xúc. Ấn tượng của tôi về họ đó là cách nói uốn lưỡi đặc trưng cùng giọng địa phương rất nặng phải chú ý lắm mới có thể nghe và hiểu được (chi tiết này cũng được chính tác giả đề cập trong sách).

Câu chuyện thứ tư trong sách kể về một việc đau lòng. Rằng khi ông bà nội của tác giả tới thị trấn Cheefoo thì phát hiện ra tại nghĩa trang địa phương người ta xây một cái tháp hình vuông với bốn bức vách khá cao, chỉ để chừa một cái cổng nhỏ để ra vào. Thông thường những gia đình (đã) nghèo khó (mà) "lỡ" sinh ra một đứa con gái thì sẽ đem bỏ đứa trẻ sơ sinh đó vào trong lòng tháp để… quên đi. Tôi thật sự sốc khi đọc tới chi tiết này. Nó làm tôi nhớ tới cái bánh bao nhuộm máu người trong “Thuốc” của Lỗ Tấn, hay hình ảnh cái tháp cao trên đỉnh khu nhà tổ nơi hành hình những thành viên gia tộc mắc tội trong phim “Đèn lồng đỏ treo cao” của Trương Nghệ Mưu. Những thứ ấy cho thấy xã hội Trung Quốc thời bấy giờ nó mới tăm tối và lạc hậu, thậm chí dã man làm sao (ấy vậy mà ông Kim Dung cứ mượn mấy cái truyện kiếm hiệp để gọi người khác là mọi này rợ nọ). Rất may mắn là ông bà McMullan đã có được một giải pháp hữu hiệu để cứu những đứa trẻ sơ sinh ấy và dần dần cái sự việc đau lòng đó đã không còn tiếp diễn nữa.

06 February, 2017

Điểm bùng phát - Gladwell

Điểm bùng phátĐiểm bùng phát by Malcolm Gladwell
My rating: 3 of 5 stars

Quyển sách bàn về các "đại dịch" xã hội, chẳng hạn một trào lưu thời trang, bùng nổ của nạn tội phạm, etc. Tác giả đưa ra luận thuyết về các đại dịch xã hội bao gồm 3 yếu tố: Thiểu số, Kết dính và Hoàn cảnh. Hầu hết quyển sách xoay quanh thuyết phục ra nêu thí dụ minh họa cho ba yếu tố này mà tác giả cho là quy luật chung của các đại dịch xã hội. Hai chương cuối "Case studies" tác giả minh họa thêm một số sự kiện nổi bật khác và liên hệ với thuyết của mình.

Nhìn chung viết khá tốt, rất hợp với độc giả phổ thông, và do vậy rất ăn khách. Tác giả rất biết dẫn dắt câu chuyện, đưa ra những tình tiết "bí hiểm" rồi từ từ tháo gỡ chúng, các thí dụ minh họa cũng rất ấn tượng, dễ thuyết phục người đọc về mặt tình cảm.

Tuy nhiên sách có nhiều vấn đề về mặt nội dung và tính xác thực. Phải nói trước là tác giả là một nhà báo, chuyên thu thập dữ liệu rồi chọn lọc thành bài luận, chứ không phải là nhà nghiên cứu.

Đầu tiên là tính chọn lọc (cherry-picking) của các ví dụ. Đa số các ví dụ đều mang tính cá nhân (anecdotes), rất ít thống kê cụ thể. Những câu chuyện đơn lẻ nhằm tạo ấn tượng và thuyết phục về măt tình cảm, nhưng thiếu tính phổ quát. Tác giả là nhà báo, nắm nhiều thông tin, việc chọn ra vài câu chuyện thích hợp cho giả thuyết của mình không phải là chuyện khó. Để tăng tính thuyết phục, cần phải có thống kê trên diện rộng và khách quan hơn.

Hai là tính mập mờ của luận thuyết: Không có cách gì kiểm chứng tính đúng đắn trong luận thuyết của tác giả. Tác giả cho rằng trào lưu khởi đầu từ một nhóm nhỏ Thiểu số, nhưng không ai có thể tìm đươc số người thiểu số này, và do vậy việc tác giả tự bịa ra thêm rằng trong số họ có 3 hạng người này nọ đi chăng nữa cũng chỉ tùy tiện, vô căn cứ. Yếu tố thứ hai tác giả đề cập là tính Kết dính, và điều này vừa hiển nhiên (không kết dính thì sao lây lan thành dịch), vừa khó kiểm chứng (làm sao biết một thông tin có kết dính hay không). Sau cùng tác giả đưa thêm yếu tố Hoàn cảnh, có lẽ để phòng hờ nếu hai yếu tố trên không thành công thì có cái để đổ thừa?! Như vậy luận thuyết của tác giả vừa mơ hồ, tùy tiện vừa khó kiểm chứng.

Do thiếu tính xác thực như trên, quyển sách cứ như là sách mê tín dị đoan, toàn nói những chuyện bí hiểm không ai giải thích được, rồi từ đó đưa ra đủ thứ giả thuyết, nói sao cũng được. Trong chương đầu, tác giả phê bình các lời giải thích khác về hiện tượng giày Hush Puppies, sự giảm mạnh làn sóng tội phạm ở New York City hay sự tăng nhanh bệnh AIDS ở Baltimore, nhưng dến cuối quyển sách tác giả vẫn không tự mình đưa ra lời giải thích cụ thể cho ba hiện tượng trên, chỉ nói mập mờ do một yếu tố "bí ẩn" nào đó làm Điểm Bùng Phát trở nên có sức ảnh hưởng lớn lao.

Mặc dù trong edition này tác giả tự thêm vào chương cuối nói về giá trị vĩ đại của quyển sách, tuy nhiên quyển sách này không có gì đặc sắc hay mới mẻ, mà toàn là "chém gió" (bullshit) thôi.

View all my reviews

05 February, 2017

Mẹ Việt dạy con bước cùng toàn cầu

Mẹ Việt Dạy Con Bước Cùng Toàn CầuMẹ Việt Dạy Con Bước Cùng Toàn Cầu by Hồ Thị Hải Âu
My rating: 4 of 5 stars

1. Độ dầy: 700 trang! Ít khi nào thấy tác giả Việt chịu khó viết "kinh thư" lên đến độ dầy như vậy. Quả thực rất công phu. Cộng với giấy dầy, bìa cứng nên khá nặng và khó mà nằm trên giường/võng mà đọc được.

2. Quan điểm: Phải nói là rất tiến bộ. Tác giả (nhà báo, nhà văn) rất chịu khó tìm hiểu thông tin về chăm sóc và giáo dục con cái, đồng hành cùng con từ những chi tiết nhỏ nhặt nhất (micro-management) nhưng dựa trên nền tảng và hệ thống nhất quán về phát triển thể chất, tư duy và tình cảm.

3. Nội dung: Chủ yếu trình bày quan điểm, lập luận để thuyết phục độc giả, minh họa bằng những câu chuyện, kỷ niệm của hai mẹ con, thỉnh thoảng chèn vào một vài mẩu chuyện ngụ ngôn ... tự sáng tác. Nhưng hầu hết quyển sách là quan điểm và lý lẽ ở tầm vĩ mô, trừu tượng.

4. Cách viết: Rất tệ! Thứ nhất là dài dòng, câu chữ lôi thôi, dễ làm rối trí độc giả bằng kiểu dùng từ vô tội vạ, ngữ pháp (tiếng Việt) lộn xộn bừa bãi. (Khổ nỗi tác giả tự nhận về khả năng viết luận của mình). Thí dụ tác giả thích chèn chữ "tuệ giác" và vài từ mượn của nhà Phật vào bất kỳ chỗ nào, khiến từ đó trở nên rất tối nghĩa. Nhiều chỗ lập luận không hợp logic, minh họa không liên quan.

5. Tính nhất quán: Đa phần khá nhất quán trong quan điểm nên cũng dễ theo dõi, tuy nhiên vài chỗ tự mâu thuẫn. Thí dụ xuyên suốt quyển sách tác giả tự xem quan điểm của mình là "khoa học", vậy mà có chỗ lại chèn vào quan niệm phương Đông về "trời đất giao thoa" rất mê tín, lại lấy đó làm căn cứ để xác định thực đơn, còn về thuốc thang bệnh tật thì tác giả cũng ủng hộ kinh nghiệm phương Đông hơn là "khoa học".

Tóm lại, nội dung khá tốt nhưng cách viết quá dài dòng và sơ sài. Nếu tác giả chịu khó đọc và chỉnh sửa lại (theo chiều hướng súc tích) thì có thể sẽ là một quyển sách hay, có ích cho nhiều độc giả Việt đang rất quan tâm đến vấn đề nuôi dạy con.

View all my reviews

Khuyến học - Fukuzawa

Khuyến HọcKhuyến Học by Yukichi Fukuzawa
My rating: 5 of 5 stars

Fukuzawa bàn về sự học trên nền tảng nationalism (lòng yêu nước) trong thời Minh Trị ở Nhật Bản cách đây khoảng 150 năm. Tác giả luận bàn lý do người Nhật phải học, khái niệm về việc học và phương pháp học như thế nào. Thời gian đó Nhật Bản vừa mới chấm dứt chế độ phong kiến mà tác giả có những quan điểm rất tiến bộ, vượt xa thời đại như vậy rõ thật là hiếm hoi.

Vì sao phải học? Tác giả cho rằng đây là thời đại mới, số phận con người không còn bị quyết định khi họ vừa ra đời mà bị ảnh hưởng rất nhiều bởi học vấn, ai có học vấn làm được việc thì sẽ có cơ hội thăng tiến. Đồng thời nước Nhật khi đó đang mở cửa cho người phương Tây vào làm việc, trao đổi buôn bán, do đó để khỏi bị rơi vào vòng lệ thuộc của phương Tây thì chỉ có cách học hỏi từ họ để bằng hoặc cao hơn họ.

Khái niệm về học vấn của tác giả cũng khác so với thời phong kiến. Tác giả phê phán lối học từ chương, chủ yếu thuộc lòng thơ văn cổ rồi đem ra thi thố con chữ với nhau. Kiểu học mới mà tác giả tiếp thu được từ phương Tây đó là học để ứng dụng vào cuộc sống, vào công việc. Và như vậy thì cách học cũng khác, phải đi đôi với hành, áp dụng vào thực tế.

Tác giả còn trình bày quan điểm về quan hệ giữa chính phủ và người dân, giải thích vì sao người dân phải quan tâm chính trị và giám sát việc làm của chính phủ, ủng hộ đấu tranh ôn hòa xem đó là cách duy nhất vừa phản đối vừa hợp tác với chính phủ để giải quyết mâu thuẫn (tác phẩm ra đời gần một thế kỷ trước Martin L. King), nhìn nhận về tính cách con người xem đâu là những tính tốt phải rèn dũa, đâu là những tính xấu nghiêm trọng phải cố hết sức phòng tránh.

Mặc dù đối với phương Tây thì nội dung không có gì là quá mới, tuy nhiên so với thời đó ở Nhật Bản là một sự vượt trội về nhận thức. Ngoài ra so với Việt Nam ngày nay thì vẫn còn khá mới mẻ. Theo mô tả của tác giả thì xã hội và con người Nhật bấy giờ cũng không khác mấy so với VN ngày nay (hơi tốt hơn tí vì ít ra họ có chính phủ Minh Trị tiến bộ và tự do xuất bản), do đó quyển sách này cũng rất phù hợp với độc giả VN. Chỉ có điều sau khi xuất bản vài năm ở Nhật sách đã bán hơn 3 triệu bản, khoảng 1/10 dân số Nhật lúc bấy giờ, còn ở VN thì không biết đã bán được bao nhiêu bản rồi trên tổng số 90 triệu dân.

View all my reviews

Quân vương - Machiavelli

Quân VươngQuân Vương by Niccolò Machiavelli
My rating: 4 of 5 stars

"Quân vương" của Machiavelli viết về những quan điểm của tác giả về thuật trị nước của các bậc vua chúa ở châu Âu vào đầu thế kỷ 16. Sách viết rất súc tích, đi thẳng vào vấn đề và nhìn nhận một cách thực tế, được lập luận khá chặt chẽ và minh họa bằng nhiều ví dụ trong lịch sử.

Điểm đặc sắc nhất trong lối viết của tác giả là tính logic. Thay vì chỉ nói chung chung "cái này tốt, cái kia xấu" như nhiều sách "bình luận" khác, ngay từ đầu tác giả nêu rõ mục đích cốt lõi của thuật trị nước: bảo toàn tính mạng và quốc gia! Tiền đề này rất quan trọng, vì nếu không thì khó giải thích được tại sao tác giả ủng hộ một lối trị nước hà khắc, tàn bạo còn hơn hào phóng và dễ dãi. Các lập luận về sau của tác giả đều dựa chủ yếu vào tiền đề này, do vậy rất nhất quán.

Về mặt nội dung, có vẻ điểm nổi bậc nhất là tính thực dụng trong nhìn nhận của tác giả, dựa vào tiền đề nói trên và bối cảnh hỗn loạn lúc bấy giờ. Đối với độc giả Việt thì có lẽ hơi khó tiếp thu vì còn xa lạ với xã hội phong kiến châu Âu thời đó. Vì vậy xét trong thời đại này thì sách có vẻ hơi lỗi thời, cách trị nước của tác giả cũng quá sơ sài, khó mà áp dụng vào tình thế hiện nay. Do vậy để hiểu tác phẩm thì nên xem xét trong bối cảnh ra đời của nó.

View all my reviews

15 August, 2016

Người cha tốt hơn là người thầy tốt

Người Cha Tốt Hơn Là Người Thầy TốtNgười Cha Tốt Hơn Là Người Thầy Tốt by Đông Tử
My rating: 4 of 5 stars

Sách hay về giáo dục trẻ em lứa tuổi nhi đồng, đặc biệt thích hợp với phụ huynh Việt.

Hiện nay nhiều cha mẹ trẻ Việt bắt đầu quan tâm đến giáo dục con cái (còn thực hiện đến đâu lại là chuyện khác, miễn bàn ở đây), đặc biệt theo các phương pháp hiện đại hơn so với lối dạy dỗ truyền thống. Đây là điều phấn khởi vì người ta đã nhận ra các vấn đề của lối giáo dục truyền thống và bắt đầu tìm hiểu các phương cách tốt hơn. Tuy nhiên giáo dục trẻ em vẫn còn là đề tài lớn và phức tạp, thông tin hỗn tạp thượng vàng hạ cám. Đã có nhiều sách về giáo dục trẻ em của người Nhật, người Mỹ, thậm chí là người ... Do Thái. Tìm hiểu đa dạng các phương pháp trên cũng là điều bổ ích, tuy nhiên đa số được đặt ngoài ngữ cảnh.

Thứ nhất, tác giả của các loại sách trên thường không phải là chuyên gia về giáo dục. Nhiều sách đơn thuần chỉ liệt kê những câu chuyện sến súa mang tính "ngụ ngôn", đọc lên thấy có vẻ hay hay nhưng khả năng áp dụng vào thực tế thì còn xa. Thứ hai, phương pháp nào cũng chỉ hiệu quả trong bối cảnh, môi trường nhất định. Phương pháp của Nhật sẽ khác cách làm của người Mỹ vì môi trường sống ở Nhật và Mỹ khác nhau. Thứ ba, do hiểu biết về xã hội nước khác còn hạn chế, phụ huynh đi đọc có thể sẽ gật gù, nhưng thực sự chưa hiểu rõ các phương pháp đó như thế nào. Các vấn đề này có thể được giải quyết bởi những phương pháp giáo dục của người Việt dựa trên bối cảnh và tâm lý của người Việt.

Quyển sách này của Đông Tử có thể nói đáp ứng được yêu cầu trên. Tuy là người Trung Quốc nhưng nội dung sách rất thích hợp và gần gũi với tâm lý Việt. Môi trường sống, tâm lý phụ huynh, truyền thống giáo dục của cha mẹ Trung Quốc cũng rất giống với Việt Nam. Tác giả Đông Tử là người có kinh nghiệm về vấn đề giáo dục, là người học rộng hiểu nhiều, ảnh hưởng nhiều văn minh của Tây phương nhưng biết cách vận dụng vào bối cảnh của Trung Quốc. Tôi tin rằng đây là quyển khởi động rất tốt cho các cha mẹ Việt, trước khi tham khảo các phương pháp xa lạ hơn của Nhật hay Mỹ.

Đối tượng của yếu của sách, nhưng tiêu đề sách ghi rõ, là những người cha. Điều này có thể khiến nhiều chị em khó chịu, thậm chí phẫn nộ. Nhưng thực tế mà nói, nam giới vẫn còn đóng một vai trò to lớn trong gia đình Trung Quốc lẫn Việt Nam. Dù là thế kỷ nào đi chăng nữa thì đàn ông mà không có sự nghiệp, không có thu nhập ổn định cũng khó mà lấy được vợ, còn bị coi như rác. Những ông bố thường bị đẩy ra khỏi các công việc chăm sóc em bé, vốn chỉ dành cho mẹ và bà. Trong quyển sách này, Đông Tử kêu gọi vai trò tích cực hơn của người cha trong việc giáo dục trẻ trong gia đình, giành thời gian hơn với trẻ và làm gương tốt cho trẻ noi theo. Các chị em, thay vì cảm thấy bị sỉ nhục khi tác giả không đoái hoài đến các bà mẹ, nếu vẫn tin vào vai trò bình đẳng nam-nữ thì hãy chịu khó đọc, chỉ việc thay từ "cha" trong sách bằng từ "cha mẹ" là xong, vì những nguyên tắc trong sách không chỉ dành riêng cho người cha mà là chung cho bất kỳ ai tham gia vào công tác giáo dục trẻ tại nhà.

Nội dung của sách không hẳn là phương pháp, cách giáo dục cụ thể như thế nào, mà chủ yếu tập trung vào yêu cầu để trở thành một người cha (mẹ) tốt. "Hơn là người thầy tốt" hàm ý bổn phận làm cha không chỉ dạy dỗ con bằng lời mà phải giành thời gian vui chơi cùng con, làm gương cho con bằng hành động. Sách tập trung vào việc thuyết phục người đọc tại sao phải dạy con được như vậy, minh họa bằng một vài ví dụ kinh điển, còn cụ thể như thế nào thì người đọc tùy vào hòan cảnh cụ thể mà vận dụng. Do đó khi đọc cũng nên kết hợp với suy nghĩ xem gặp trường hợp cụ thể thì bản thân mình sẽ xử trí thế nào, chứ còn đọc suông không thì e là sẽ mất thời gian vô ích.

Đặc điểm nổi bật của sách là khuyến khích lối giáo dục bằng hành động, duy trì không khí vui vẻ trong gia đình, thay vì chỉ dạy con bằng lời nói suông hay thậm chí trách mắng. Phần cuối tác giả nhấn mạnh vai trò làm gương của cha mẹ vì hành động của cha mẹ ảnh hưởng đến con cái nhiều nhất. Tôi e rằng nhiều bậc cha mẹ hiện nay chưa coi trọng vấn đề này đúng mức. Tuy nhiên để làm gương được đòi hỏi cha mẹ cũng phải phấn đấu học hỏi rất nhiều, mà điều này thì lại rất khó, đặc biệt ở người lớn ở các nước khá bảo thủ như Trung Quốc và Việt Nam.

Sách hơi dông dài và nhiều đoạn lê thê dư thừa, do đó tiêu hao khá nhiều thời gian. Nếu tác giả chịu khó thu gém lại cho súc tích hơn thì đạt hiệu quả có khi còn lớn hơn. Khá nhiều chỗ còn chung chung, vẫn mang tính "ngụ ngôn", lý thuyết mà chưa đi sâu vào cụ thể. Người đọc vẫn cần phải suy nghĩ thêm và tự tìm tòi sâu hơn ở những quyển sách khác.

View all my reviews

23 November, 2015

Khói trời lộng lẫy–Nguyễn Ngọc Tư

Khói Trời Lộng LẫyKhói Trời Lộng Lẫy by Nguyễn Ngọc Tư
My rating: 4 of 5 stars

Nhận xét chung:
So với các tập truyện trước của cùng tác giả Nguyễn Ngọc Tư thì những truyện ngắn này cho thấy sự phát triển, trưởng thành trong tư duy, cách xây dựng truyện, nhân vật và văn phong.

Nhà văn mô tả cuộc sống và con người ở quê chân thực, gần gũi hơn, ít mang hơi hướng của trào lưu "ca ngợi bần cố nông" như trước. Chị Tư nhìn nhận cái tốt cái xấu của làng quê, người quê một cách đầy cảm thông và yêu mến. Câu văn tuy ngắn như dùng từ rất gợi hình gợi cảm, đặc biệt lồng vào rất nhiều từ địa phương tạo cảm giác gần gũi. Giọng văn tự nhiên, trầm bổng như thơ, rất điêu luyện. So với các tác phẩm trước thì nhà văn ít bị lỗi điệp từ (dùng một vài từ quá nhiều lần).

Về xây dựng cốt truyện: Đa phần các câu chuyện đều nhẹ nhàng, tuy nhiên vài chỗ quá lâm li bi đát một cách không cần thiết. Diễn biến câu chuyện khá nhanh, nếu nhà văn chịu viết dài hơn một tí thì có vẻ tự nhiên hơn. Một số truyện có tình tiết hoặc nhân vật hơi gượng ép, cầu kỳ.

Các nhân vật phụ trong truyện đều mang đậm chất quê, trừ nhân vật chính ra. Không biết nhà văn có bị lậm các tác phẩm kinh điển của Tây phương quá không, nhưng nhân vật chính ở hầu hết các truyện đều không mang dáng dấp một người nhà quê, ngược lại có những suy nghĩ và hành động rất phóng khoáng, lãng mạn, quý phái, như một công chúa tóc vàng hơn là một con bé đen đủi quê mùa.

Nhận xét riêng cho vài truyện ngắn trong tuyển tập:
Thềm nắng sau lưng: Rất ấn tượng vì một nữ nhà văn có thể thấu hiểu và diễn tả được nội tâm của những gã (mang dòng máu) giang hồ. Truyện tuy nhẹ nhàng nhưng chứa đựng một sự cảm thông hết sức sâu sắc.

Có con thuyền đã buông bờ: Câu chuyện tự nhiên, dễ thương, có phần lậm bài hát "Đôi mắt người xưa" thì phải. Nhân vật chính hiện ra rất thực và rất đẹp.

Rượu trắng: Ý tưởng viết về rượu và những người đàn bà nấu rượu rất hay, lột tả được hai mặt của con người, của cuộc sống.

Nước như nước mắt: Câu chuyện có lẽ hay, nếu không vì cái kết quá lãng nhách, rập khuôn các bi kịch trong các tác phẩm Tây. Nhà văn còn cố tình tỏ ra mập mờ về cái kết để thêm phần ly kỳ. Mặc dù cách kể chuyện rất hay, nhưng diễn biến thì giống kịch bản phim hơn.

Cảm giác trên dây: Dở ẹt! Đề tài người phụ nữ có gia đình êm ấm nhưng bị "say nắng" bởi trai tơ đã xưa như Trái Đất. Nhân vật khá cực đoan, một bên thì toàn vẹn mọi thứ, bên kia là trùm băng đảng có hoàn cảnh gia đình éo le. Kết cục cũng hụt hẫng, không nói lên ý nghĩa gì.

Khói trời lộng lẫy: Truyện dài nhất, bằng 1/3 cả tập truyện, và được chọn làm tiêu đề của cả tập truyện. Khổ nỗi lại lê thê, chắp vá, lan man. Ý tưởng viết về cái đẹp và sự mất mát rất hay, tuy nhiên đề tài này rất trừu tượng và cần sự đầu tư nghiêm túc hơn.
Nhà văn chọn cách kể đan xen các bối cảnh. Cách kể này có hiệu quả khi các tình tiết có sự liên quan mật thiết với nhau. Tuy nhiên các nội dung trong truyện này rất chắp vá, không gắn kết với nhau. Thí dụ nhân vật Nhứt xuất hiện trong một đoạn, rồi biến mất luôn không để lại tăm hơi gì. Nhân vật Lam cũng thế. Ngay cả ông Sáu Câu, rồi nhân vật xuất hiện nhiều nhất là Anh (người tình của nhân vật chính) đến phần kết cũng không thấy bóng dáng đâu.
Đọc xong không hiểu cốt truyện là gì! Cứ tưởng là câu chuyện tình giữa nhân vật "Tôi" và Anh, đến cuối truyện mới té ngửa hóa ra không phải! Nhân vật chủ chốt là Phiên, ngặt nỗi nó chẳng liên quan gì tới các nhân vật khác cả, và câu chuyện xoay quanh nó rất ngắn.
Nhân vật "Tôi" có tính cách rất khó hiểu: Luôn là một người đầy tâm tư, lại rất hiểu biết về con người, cao ngạo, phán xét mọi thứ như thánh, nhưng lại có những hành động chẳng ra gì, thí dụ nói đùa "Em có thai rồi" xong chia tay. Sau lại bắt cóc em trai mình, đến khi nó hiểu ra sự thật thì "Tôi" chọn giải pháp tự thiêu. Trong khi các nhân vật các đều khá rập khuôn thì nhân vật "Tôi" khác biệt, nổi trội hẳn, có lẽ là hình ảnh tưởng tượng của chính tác giả chăng?
Ngẫm kỹ thì thấy dụng ý của tác giả là liệt kê các mất mát trong cuộc đời của "Tôi", từ đó dẫn tới vụ tự thiêu. Ý tưởng thì tốt, nhưng cách kết nối sự kiện như thế e là chưa đạt.

View all my reviews

31 October, 2015

Cung Oán Ngâm Khúc

Cung Oán Ngâm Khúc chú giảiCung Oán Ngâm Khúc chú giải by Nguyễn Gia Thiều
My rating: 5 of 5 stars

Tiếng Việt, thơ Việt khó lòng đẹp hơn thế!

Phần nhận xét dành cho tác phẩm "Cung Oán Ngâm Khúc" của Nguyễn Gia Thiều:

Bài ngâm song thất lục bát chỉ dài 356 câu, xoay quanh nỗi chán chường, thất vọng, oán hận của một người cung phi đã từng được vua sủng ái nay bị bỏ quên trong cung cấm. Nội dung chỉ đơn giản có vậy! Toàn bài thơ không hề có diễn biến gì, chỉ đơn thuần tả cảnh tả tình, giống như một tập tranh: Bức tranh đầu tiên là một đêm thu vắng vẻ gió lạnh, người cung phi một mình thui thủi xót xa phận mình. Bức thứ hai là thời con gái của nàng, một thiếu nữ kiều diễm tài hoa kiêu hãnh. Bức thứ ba, có vẻ không liên quan đến cung phi cho lắm, tả cuộc đời trần ai lắm khổ đau, phù du như giấc mộng. Bức thứ tư là những tháng ngày nàng được vua sủng hạnh, những sớm trưa chầu chực bên vua. Bức tranh thứ năm lại là những ngày u tối buồn bã mong mỏi oán hận trong cung cấm khi nàng bị vua quên lãng. Sau cùng chúng ta được trở lại bức tranh thứ nhất, nàng chưa kịp chợp mắt thì trời đã sáng, nàng nghĩ về những ngày còn lại của đời mình.

Bài ngâm thuần tả tình (tả cảnh cũng chỉ nhằm mục đích tả tình), xuất phát từ thân phận bị phũ phàng, cung nữ giãi bày mọi ngóc ngách trong cõi lòng mình. Mọi thang bậc cảm xúc, mọi khía cạnh của tâm hồn đều được khai thác triệt để, thật tài tình!

Đáng nói hơn là về bút pháp. Cách dùng từ đặt câu rất kiểu cách nên khó hiểu, nếu không nhờ chú giải cặn kẽ e là không hiểu được hoặc hiểu nhầm ý. Một khi đã hiểu ý nghĩa câu thơ, ta sẽ thấy tài nghệ của nhà thơ thật cao thâm! Hãy lấy thí dụ bằng hai câu thơ sau:

"Lầu đãi-nguyệt đứng ngồi dạ-vũ,
Gác thừa-lương thức ngủ thu-phong"

"Đãi-nguyệt" là chờ ngắm trăng, "dạ-vũ" tức đêm mưa. Trong một đêm mưa (tức không thể thấy trăng) mà cung phi lủi thủi ra lầu đãi-nguyệt, hết đứng rồi lại ngồi. Chắc hẳn không phải là để ngắm trăng mà vì tưởng nhớ những ngày cùng vua ngồi ngắm trăng ở chốn này, nay nhớ vua quá nên một mình ra ngồi trông ngóng (trong tuyệt vọng). "Thừa-lương" là hóng gió mát, "thu-phong" là gió (lạnh) mùa thu. Đang cơn gió lạnh mà cung phi một mình ra gác thừa-lương, hết thức rồi lại ngủ, chắc không phải để hóng gió lạnh, mà vì nhớ những ngày cùng vua hóng gió nơi này nên một mình ra trông ngóng tìm lại cảm giác xưa. Chỉ bằng hai câu thơ mà tác giả diễn tả được một nỗi nhớ nhung, tha thiết, mong đợi và tuyệt vọng đến điên dại. Ấy là chưa kể hai câu thơ đối rất cân với nhau, đồng thời "dạ-vũ" và "thức ngủ" lại vần với nhau nữa. Thật là đẹp!

Hoặc tả cảnh đêm thu hiu quạnh

"Giọt ba-tiêu thánh thót cầm canh
Bên tường thấp thoáng bóng huỳnh
Vách sương nghi ngút, đèn xanh lờ mờ"

Bên ngoài mưa rả rích, nước đọng trên lá (chuối) ba-tiêu thỉnh thoảng rơi xuống tạo ra tiếng "cầm canh", chứng tỏ đêm mưa vắng vẻ hiu quạnh ghê lắm. Bờ tường thì sương phủ kín, mờ mờ ảo ảo, lại có thêm ánh đom đóm lập lòe, trong phòng thì đèn ngọn xanh lờ mờ. Tả căn phòng cô quạnh của cung phi mà ta có cảm giác như tả cảnh ngoài nghĩa trang, thật không gì u ám sầu não hơn.

Nhận xét dành cho phần chú giải của Lê Văn Hòe:

Quả thực nếu không được chú giải tỉ mỉ cẩn thận e là tác phẩm này khó đến được với người đọc bình dân. Sách chú giải từng chữ từng từ, giảng giải các điển tích liên quan, liên kết với bối cảnh và thân thế của nhà thơ, giúp người đọc có hiểu biết cụ thể, rõ ràng về ý nghĩa của câu thơ. Lê Văn Hòe còn so sánh và phê bình những cách hiểu khác mà theo ông là không hợp lý.

Điểm nổi bật trong cách chú giải của Lê Văn Hòe là ông kết nối ý của nhiều câu với nhau để tìm ra ý chung, từ đó mới đi tìm hiểu chi tiết từng từ từng câu một, như vậy đảm bảo cách hiểu bám chặt lấy nội dung chính của cả đoạn, cho nên nội dung chú giải rất nhất quán, trôi chảy và hợp lý.

Bài ngâm dài 356 câu, sách dầy 290 trang, trung bình mỗi câu thơ được dành ra gần một trang để chú giải. Thật là công phu! Chính nhờ phần chú giải mà người đọc học hỏi được nhiều hơn về tiếng Việt và thơ Việt.

View all my reviews

Trước khi kết bài, xin giới thiệu một bản nhạc bày tỏ cùng nỗi lòng với nàng cung phi đáng thương của chúng ta. Đó là bản “Memory” trong vở nhạc kịch “Cats” bởi nhà soạn nhạc lừng danh Andrew Lloyd Webber.

03 September, 2015

42 năm làm ăn tại Mỹ và TQ

42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc by Alan Phan
My rating: 4 of 5 stars

Đây không phải là bút ký/hồi ký, cũng không phải là sách bình luận về kinh tế vĩ mô của Mỹ và Trung Quốc (TQ), mà là sự pha trộn của cả hai. Thật khó có thể xếp loại sách vì tác giả trình bày nhận định của mình về vấn đề làm ăn, kinh doanh ở Mỹ và TQ, dựa vào kinh nghiệm thực tế lẫn thông tin của báo đài.

Dẫu sao tôi vẫn cho rằng đây là một quyển sách hay:

- Sự chân thực: Tác giả không chỉ nói về những thành tựu của bản thân mà kể luôn cả những thất bại, những bài học đau đớn. Rất ít tác giả khi viết về bản thân làm được điều này.

- Tính khách quan: Rất nhiều sách về kinh doanh cho những doanh nhân thành đạt ở một mức độ nào đó viết chỉ huyên thuyên nói về bí quyết kinh doanh, làm như thể đó là quy luật chung đúng đắn cho mọi nền kinh tế và việc kinh doanh nghe có vẻ rất dễ dàng. Quyển sách này nổi bật hơn ở chỗ phân tích những yếu tố cần thiết khi khởi nghiệp để cho thấy sự khó khăn và phức tạp của vấn đề. Ngoài ra khi so sánh hai văn hóa kinh doanh ở Mỹ vả TQ, sách còn cho thấy việc làm ăn cũng tùy "thiên thời địa lợi nhân hòa", doanh nhân phải tùy cơ ứng biến chứ không hề có "bí quyết làm giàu" nào chung cả.

- Góc nhìn mới: Đã có nhiều doanh nhân viết về văn hóa làm ăn của TQ, nhưng phần nhiều là người phương Tây nên có cách nhìn có thể hơi khác với người Á Đông. Vì tác giả là người Việt nhưng sinh sống lâu năm tại Mỹ nên có cách nhìn gần gũi hơn, đồng thời có thể so sánh trực tiếp những sự tương đồng hay khác biệt với thế giới phương Tây.

Lẽ ra quyển sách có thể hay hơn nếu tác giả chỉ dựa vào trải nghiệm cá nhân mà thôi, thay vì dẫn chứng những sự kiện trên báo đài mà nhiều khi không thật tiêu biểu. Tóm lại, một quyển sách nhỏ nhưng thú vị dành cho những ai quan tâm đến việc kinh doanh ở Mỹ, TQ và thậm chí ở VN.

View all my reviews

11 August, 2015

Một cơn gió bụi–Trần Trọng Kim

Một cơn gió bụiMột cơn gió bụi by Trần Trọng Kim
My rating: 5 of 5 stars

Quyển sách nhỏ này là những ghi chép của cụ Trần Trọng Kim về quãng thời gian 1943-1948 khi cụ tham gia vào các hoạt động chính trị tại Việt Nam. Dành cho những ai chưa quên tên cụ, xin nói thêm rằng cụ Trần Trọng Kim là một nhà Nho, sử gia và sau cùng vì hoàn cảnh đưa đẩy cụ trở thành chính trị gia bắt đắc dĩ. Khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, cụ được vua Bảo Đại mời làm Tổng trưởng Nội các của chính phủ mới (tức Thủ tướng), nhưng chưa đầy năm thì Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội, chính phủ Trần Trọng Kim phải giải tán, vua Bảo Đại thoái vị.

Về mặt nội dung, đây là một tập bút ký quan trọng. Thời kỳ trước và sau 1945 là quãng thời gian hỗn loạn ở VN, lại thêm tin tức lan truyền khó khăn chủ yếu truyền miệng nên thông tin càng thêm rối rắm, mỗi người nhìn nhận một kiểu. Ngoài việc cố vấn cho Cựu Hoàng Bảo Đại thì thực ra vai trò chính trị của cụ Trần Trọng Kim cũng không quá lớn, tuy nhiên những lời kể chân thực của cụ trong tập bút ký này đã trả lời nhiều khúc mắc của lịch sử, bác bỏ nhiều tin đồn thất thiệt và cho chúng ta có cái nhìn khách quan hơn về biến chuyển của thời cuộc.

Qua quyển sách này, ta sẽ cảm nhận được độ phức tạp rối ren của tình thế lúc bấy giờ. Tất cả các quốc gia liên quan, các đảng phái và từng người đều có mưu toan riêng, không ai dám tin ai. Hứa hẹn rồi trở mặt là chuyện thường ngày, cộng vỡi nỗi khó khăn của cuộc sống thời binh loạn tạo thành một bức tranh hỗn độn, ngay cả người sáng suốt nhất cũng chẳng biết đường ra. Nhiệm vụ của người hậu thế là phải hiểu tình cảnh lúc bấy giờ, rồi sau mới đánh giá phê bình tiền nhân nếu muốn, chứ không nên kết luận vội vã. Quyển bút ký này cho ta thấy được sự bối rối và vất vả của người đương thời, từ đó gợi cho ta sự cảm thông sâu sắc.

Về văn phong thì quyển bút ký kể chuyện rất thành thực, có lẽ do tính cách của cụ đã như vậy. Khác xa với những quyển hồi ký mắc phải bệnh "lên gân" tìm mọi cách để tôn cái tôi của tác giả lên, cụ Trần Trọng Kim viết về thời kỳ "gió bụi" này với một thái độ bình thản và khiêm nhường, phản phất một nỗi buồn man mác về đất nước, con người và thế cục.

Thiết nghĩ những hậu thế hôm nay nên dành ít phút đọc lại những bút ký xưa để hiểu và đồng cảm với cha ông, cũng là một cách học hỏi từ quá khứ để đối phó với thử thách hiện tại. Sau cùng, góp ý nhỏ cho NXB, quyển tôi đọc in năm 1969 có nhiều lỗi chính tả, một vài chỗ sai năm và địa danh. Đối với sách lịch sử đây là những điểm quan trọng, nếu tác giả lỡ có chép sai cũng mong NXB chú thích thêm.

View all my reviews

01 August, 2015

Ngày xưa có một con Bò...

Once upon a Cow

Tác giả: Camilo Cruz, PhD
Bản dịch của Nguyễn Hoàng Yến Phương
NXB Trẻ ấn hành
---


Dù chỉ mới đọc được gần phân nửa cuốn sách nhưng tôi lập tức quyết định phải viết ngay lời nhận xét lên đây. Bởi vì tôi cảm thấy... thất vọng, rất rất thất vọng.

Tôi cảm thấy thất vọng bởi vì chính những điều mà cuốn sách đã nêu ra nó đúng với tôi. Tôi chợt buồn bã mà nhận ra rằng mình... thật giàu, gia tài của tôi có rất nhiều bò, toàn bò là bò, cả một đàn bò đông đúc!

Ngày xưa có một con Bò...

Mỗi con bò trong số ấy chính là một sợi dây ràng buộc ta với cuộc sống trì trệ hiện tại, nó níu giữ đôi chân ta không thể vươn tới một tương lai mới tốt đẹp hơn. Thật ra, trong thâm sâu mỗi con người, ai cũng có những ước mơ cao đẹp, những khát vọng và đỉnh cao muốn chinh phục. Vậy thì vì sao chúng ta lại vẫn chưa đạt được đến những điều ấy? Có phải chăng là bởi vì ta kém cỏi, ta không có "thiên thời", "địa lợi"? Không đâu, nguyên nhân chính vẫn là tại các con Bò mà ta đang sở hữu.

Cuốn sách của Cruz ngoài việc chỉ ra rằng trong mỗi chúng ta ai cũng có ít nhiều những con bò, còn nêu rõ đó là những con bò gì. Trước nhất đó là con bò "tự bằng lòng với hiện tại", cho rằng ta như thế là OK rồi", "khối người muốn như ta mà còn không được"... Thêm nữa, còn có con bò "biện hộ", rằng tại vì thế này, tại vì thế kia, chứ không bao giờ là tại vì nơi bản thân mình hết. "Tôi thật sự rất bận", đó chính là câu cửa miệng mà rất nhiều người thốt ra, "tôi không có đủ thời gian thật mà." hay "tôi không thăng tiến vì tôi đang làm việc cho một ông sếp tồi, không biết đánh giá năng lực nhân viên," thậm chí đó còn là "tôi đã làm đúng như vậy rồi mà."...

Tác giả, ở phần lớn cuốn sách, đã phân tích sâu thêm cho mỗi trường hợp Bò. Ông dành nhiều trang giấy nêu bật nguồn gốc chúng ở đâu ra, và làm sao để ta có thể loại bỏ bất kỳ còn bò nào, hoặc là hãy cố gắng đừng để nhận thêm bò từ khác ban tặng...

Xin nói thêm, tôi không biết có phải hình ảnh con Bò trong văn hóa phương Tây là một điều gì đó tồi tệ hay không, nhưng những gì không hay ho, người ta đều gán cho nó chữ "con bò". Ví dụ như ở cuốn sách này, hoặc hình ảnh "cứt bò" (bullshit) mà triết gia Harry Frankfurt đã nêu ra và được Mr H diễn giải ở đây: http://xe-dap.blogspot.tw/2015/06/cut-bo-1.html.

Gì thì gì, tôi cũng đã nhận ra nguyên nhân mình đang dậm chân tại chỗ, hay nói đúng hơn là đang thất bại. Tuy nhiên, tôi có dám giết đàn bò của mình hay không thì tôi không chắc nữa. Tôi đang cưỡi trên con bò "do dự" của mình và sẽ rất mỏi chân đi bộ nếu không có nó.

17 May, 2015

Bad Science

Bad Science by Ben GoldacreBadScience


Cách đây vài năm trên một chương trình gameshow ở VN có câu hỏi “Khi uống nước nên đứng hay nên ngồi?”. Đáp án của chương trình là “nên ngồi” và người MC giải thích như sau: Khi đứng uống nước thì nước sẽ bị dồn xuống chân cả nên kém hiệu quả, “đây là kiến thức mới rất ít người biết”! Người MC (và người đề ra câu hỏi lẫn đáp án) quên mất sự tồn tại của … dạ dày, hệ tiêu hóa và thận. Họ hình dung cơ thể người như cái bọc ny lông, đổ nước vào thì nước tuột xuống chân cả!

Khoảng 2 năm trước tôi đọc một tin trên báo mạng bày cách giảm cân bằng cách uống một ít nước trước khi ăn, được giải thích như sau: Nước làm loãng dịch dạ dày do đó làm hệ tiêu hóa hoạt động kém hiệu quả và hấp thụ ít năng lượng từ thức ăn hơn. Vài hôm sau có người bạn gửi cho tôi một số tác dụng tích cực của nước, trong đó có đoạn “Uống một ít nước trước khi ăn giúp hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả hơn”. Hai “bí quyết” này, cái nào đúng, cái nào sai?

Tuần vừa qua có vài người bạn chia sẻ vài mẩu tin sức khỏe trên facebook như sau: Trẻ sơ sinh nặng 3kg là “thông minh nhất”; Đánh vào mông trẻ gây tổn thương não; Những tác hại của việc uống sữa động vật. Tất cả bản tin đều là kết quả “nghiên cứu” của “các nhà khoa học”.

Nếu chiu khó thống kê chúng ta sẽ có một danh sách dài những chất “gây ung thư” và những chất “chống ung thư”,  có những thứ xuất hiệu ở cả hai bên, vừa gây vừa chống ung thư! Trên báo xuất hiện ngày càng nhiều bí quyết sức khỏe (đặc biệt chống ung thư và giảm cân), bao giờ cũng là thành tựu nghiên cứu khoa học cả. Tuy nhiên, đa phần những “kiến thức” này nhiều khả năng là bịa đặt do những “nghiên cứu khoa học tồi” (bad science). Đó là chủ đề chính của quyển sách này.

Tác giả Ben Goldacre là nhà nghiên cứu và bác sĩ công, đồng thời phụ trách chuyên mục “Bad Science” trên tờ Guardian của Anh quốc. Ông có thuyết trình ở TED Talk cũng về chủ đề này:

Tất cả những ai quan tâm đến các kiến thức về sức khỏe, cách nhận biết kiến thức có giá trị và phòng tránh những tin vịt đều nên tìm đọc quyển sách này. Tác giả dùng những sự kiện rất kinh điển trong lĩnh vực y tế để minh họa những cách nghiên cứu và truyền bá giả dối của bọn lang băm đột lốt bác sĩ và “nhà khoa học”. Những chiêu trò này vẫn hốt bạc triệu đô-la, được ngụy trang rất khéo léo đến mức cả những người trong ngành cũng khó nhận biết chứ đừng nói chi dân chúng. Họ quảng cáo rầm rộ trên các phương tiện truyền thông, dùng những thuật ngữ nghe rất “khoa học” và bao giờ cũng đi kèm với bằng cấp, viện nghiên cứu này nọ.

Một ví dụ thường thấy là lĩnh vực dinh dưỡng. Quanh năm suốt tháng người ta “phát hiện” hết chất này tốt đến chất kia xấu mà vẫn không bao giờ hết chuyện. Hầu hết những “phát hiện” này chỉ là phỏng đoán vô căn cứ, được báo chí thổi phồng để bán tin tức. Bạn có thể sẽ hơi thất vọng khi biết rằng những kiến thức về tác dụng của thực vật, của vitamin đã gom góp trong suốt bao nhiêu năm theo dõi qua báo chí đều không chính xác. Thậm chí chất chống oxy hóa trong thực tế gây nhiều tử vong hơn!!! Bạn sẽ lại thất vọng khi biết rằng các loại kem dưỡng da chỉ giúp da có vẻ “mềm và đẹp” hơn nhất thời chứ thực ra không có tác dụng dưỡng da gì cả.

Nguyên nhân của tình trạng hỗn loạn này là sự phối hợp của các tay lang băm chỉ muốn bán thuốc kiếm lợi, của các tay nhà báo thiếu lương tâm chỉ muốn giật gân để bán tin và của đại bộ phận người dân chỉ trông ngóng vào “thuốc tiên” giúp họ khỏe mạnh mà không cần phải ăn uống điều độ và tập thể dục thường xuyên.

Quyển sách không dừng ở việc trình bày vấn đề qua các sự kiện điển hình, thông qua đó tác giả hướng dẫn người đọc các phương pháp để nhận biết và đề phòng các “phát hiện” giả. Tác giả liệt kê một số chiêu trò cơ bản của bọn lang băm và “nhà khoa học giả” dùng để bóp méo số liệu và phương pháp nghiên cứu để đưa ra kết quả sai với thực tế, do đó giúp người đọc biết cách cảnh giác.

Về văn phong, sách viết mạch lạc với nhịp điệu rất nhanh, giọng văn hài hước và châm chọc, đôi khi rất phẫn nộ (với những kẻ dối trá). Do đó sách cũng khá kén độc giả, đòi hỏi người đọc phải có niềm tin vào khoa học, có sự cởi mở (chấp nhận những gì mình từng biết là sai) và có óc hài hước.

Tóm lại, một quyển sách rất hay và đáng đọc dành cho tất cả những ai yêu khoa học và yêu sức khỏe! Sau khi đọc xong quyển sách, cách nhìn của bạn về các sản phẩm sức khỏe sẽ thay đổi hẳn, chắc chắn là như vậy!

16 January, 2015

Why we make Mistakes

Title: Why we make MistakesWhyMistakes
Author: Joseph T. Hallinan


Tương tự như quyển “You are not so smart”, đây cũng là một quyển về tâm lý học hiện đại trình bày bởi một nhà báo nhưng lần này tập trung phân tích sai sót của con người. Một lần nữa, những quyển như thế này rất dễ khiến chúng ta mất lòng tin vào mọi thứ, kể cả bản thân mình.

Lấy thí dụ, overconfidence. Tác giả chỉ ra bằng những khảo cứu có thật rằng hầu hết chúng ta đều khá “lạc quan” về bản thân mình, đặc biệt các quý ông thường tự tin hơn hẳn phụ nữ. Các ông hay nghĩ rằng mình đẹp trai phong độ, đánh lộn, cá độ thường thắng nhiều hơn bại. Điều này không có nghĩa là phụ nữ không “overconfident”, chỉ là mức độ thấp hơn đàn ông thôi. Tác giả còn chỉ ra rằng, những người “chém gió” ít khi nào tự nhận thức được mình đang “chém gió”, ngược lại chính họ bị “gió” của họ “chém” lại khiến họ tin đó là sự thật. Nhiêu đó cũng đủ khiến chúng ta nghi ngời mọi hành động, lời nói và suy nghĩ hàng ngày của chúng ta, bao nhiêu là sự thật, bao nhiêu do ta bịa ra mà chính ta cũng không hề hay biết.

Một thí dụ kinh hoàng khác là trong ngành y tế. Việc tiêm thuốc … nhầm xảy ra hết sức phổ biến. Ngoài ra ở Mỹ, nơi có nền y học tiên tiến bậc nhất thế giới, xác suất bác sĩ chẩn đoán nhầm lên đến 20%, tức cứ 5 người đi khám thì có một người bị chẩn đoán sai bệnh! Mà đó là Mỹ, chứ còn VN thì chắc không cần phải bàn nữa.

Không phải đơn thuần chỉ liệt kê những sai lầm phổ biến của con người, tác giả cố gắng hệ thống và giải thích những sai lầm đó từ góc độ cơ bản hơn dựa trên cơ sở tâm lý học hiện đại. Từ đó sách đưa ra một vài phương pháp để giảm thiểu sai sót, có thể áp dụng cho chính bản thân chúng ta hoặc vào các tập thể tổ chức. Điều dễ thực hiện nhất là … ngủ đủ giấc, vì có rất nhiều sai lầm xảy ra khi chúng ta làm việc trong trạng thái mệt mỏi do thiếu ngủ. Xa hơn một chút, chúng ta nên tập thói quen làm việc cẩn thận, tỉ mỉ ngay cả khi đó chỉ là những việc nhỏ nhặt tầm thường. Xa hơn nữa, chúng ta tìm cách có được feedback từ người khác thật sớm và rút kinh nghiệm từ sai sót của mình, tất nhiên điều này không dễ dàng thực hiện được.

Trong sách có vài chỗ tôi không thật sự ưng ý lắm. Thỉnh thoảng tác giả kể những câu chuyện khá dài nhưng không minh họa rõ ý cho lắm. Một vài đoạn không thật sự liên quan đến các phần xung quanh hay đi lạc ra khỏi chủ đề của sách. Dù sao đây vẫn là một quyển sách dễ đọc với nhiều thông tin thú vị và bổ ích.

02 November, 2014

BUDDHA: his life and teachings

Buddha: His Life and Teachings and Impact on Humanity

Title: BUDDHA – his life and teachings
Author: OSHO


Quyển sách sơ lược cuộc đời của đức Phật Thích Ca (Gautama Buddha) và những khái niệm cơ bản nhất của đạo Phật. Đây có thể xem là quyển vỡ lòng về đạo Phật dành cho những ai còn xa lạ hay muốn tìm đến những nguyên tắc cơ bản của Phật giáo.

Tôi bỏ qua phần tiểu sử của Gautama Buddha, bởi vì tôi đã đọc câu chuyện đó nhiều lần rồi. Phần thứ hai của quyển sách về lời dạy của đức Phật thì khá thú vị. Khác với nhiều quyển truyền bá đạo Phật khác đa phần gom vào rất nhiều khái niệm và thuật ngữ xa lạ với người ngoại đạo, quyển sách này chỉ trình bày những khái niệm cốt lõi nhất như vô thường, vô ngã, vô thức, trung dung và niết bàn.

Đạo Phật trong quyển sách này có lẽ khác nhiều so với những gì chúng ta quan niệm. Thứ nhất là không có Thượng đế, cõi tiên bồng hay địa phủ, chẳng có ma quỷ, cũng chẳng có phần thưởng hay tội lỗi gì cả. Đạo Phật của tác giả (mà ông cho rằng gần với lời dạy của đức Phật hơn cả) gần như là một triết lý sống hướng vào tìm hiểu chính bản thân mình qua quá trình tịnh tâm và nhận thức. Đạo Phật không nói gì đến vũ trụ bên ngoài mà chỉ chú trọng đến thế giới nội tâm mỗi người chúng ta. Có thể bạn sẽ hơi bất ngờ, tuy nhiên chính tác giả cũng nhiều lần nhắc rằng đạo Phật phổ biến ngày nay đã đi rất xa so với nguyên lý cơ bản ban đầu của nó. Theo đó, đức Phật dạy rằng chúng ta nên bỏ bớt những ham muốn, suy nghĩ dư thừa để trở về trạng thái “vô thức”; còn đạo Phật ngày nay dựng “niết bàn” như một chốn an lạc nào đó, là cái đích đến để chúng ta phấn đấu làm điều thiện bỏ điều ác (ai là người phân định thiện và ác?).

Quyển sách rất hay về mặt ý tưởng, nhưng hơi dở trong cách trình bày. Thứ nhất, những lời dạy trong sách được minh họa bằng những ví dụ trong cuộc sống hiện đại, diễn đạt bằng cách hiểu và lời lẽ của tác giả, tuy nhiên được viết như thể chính đức Phật nói vậy. Do đó nói đây là lời dạy của đức Phật thì không được chính xác. Và từ đó cũng khó mà biết nội dung trong sách có đúng với quan điểm của đức Phật hay không. Mặc dù cách làm này sẽ giúp nhiều độc giả dễ hiểu, tuy nhiên cá nhân tôi không thích kiểu “nhét chữ vào mồm thánh nhân” như thế này.

Cái dở thứ hai của sách là sự cực đoan. Nhiều lần tác giả so sánh và đả kích các môn phái khác, từ Thiên chúa, đạo Hồi đến Khổng Tử, Lão Tử và cả Khoa học. Ông ta gọi các trường phái đó là “immature”, “childish”, là chậm tiến hơn so với lời dạy của đức Thích Ca cách đây 2500 năm. Chưa hết, mặc dù trong phần bàn về “trung dung”, sách dạy rằng không nên cực đoan một chiều nào cả. Tuy nhiên chịu khó lật lại vài trang đầu sẽ bắt gặp đoạn sau đây: ”I have been in the academic world and I say it through my experience. I have seen intelligent farmers, but I have not seen intelligent professors. I have seen intelligent woodcutters, but I have not seen intelligent professors”. Chưa cần bàn tới quan điểm của tác giả cho rằng kiến thức là dư thừa chỉ khiến chúng ta ngu muội đi, chỉ cần đọc đoạn này thôi đã thấy không được khớp với quan điểm “trung dung” của đức Phật rồi.

Một chỗ hạn chế của quyển sách đó là chỉ dừng lại ở đề xuất những trạng thái chúng ta cần đạt tới (như tinh thông, tịnh tâm, vô ngã) nhưng chưa hề nhắc tới làm thế nào để đạt được chúng. Quyển sách chỉ đưa ra cái đích, nhưng chưa vẽ con đường. Có thể là không có con đường nhất định nào dẫn tới “niết bàn”. Cũng có thể là có, nhưng độc giả nào quan tâm thì tự đi tìm lấy.

Tóm lại, những người quan tâm đến đạo Phật, dù có là tín đồ sùng bái đến đâu, cũng nên tìm đọc quyển sách này hoặc những quyển tương tự để đối chiếu với những gì mình đã biết về Phật giáo. Sách viết rất dễ hiểu dành cho độc giả phổ thông, ngoài ra có rất nhiều hình minh họa rất đẹp về đức Phật nên chắc chắn đọc vào chỉ có ích chứ không hại gì. Những ai muốn đào sâu thêm về Phật giáo có thể tìm những quyển nghiêm túc và công phu hơn.

08 September, 2014

Parasite Rex

Title: Parasite RexInside the bizarre world of nature’s most dangerous creatures
Author: Carl Zimmer


Một lần tôi tình cờ xem bài thuyết trình của Ed Yong trên TED Talks về Ký sinh trùng, tôi thật sự bị sốc bởi những điều diễn giả nói. Sau đó tôi quyết định phải tìm hiểu kỹ hơn về đề tài này. Tôi bắt đầu từ quyển “Little Creatures” (A. Marrin) vốn dành cho trẻ em, sơ lược về ký sinh trùng. Sau đó tôi đến với một trong những quyển sách kinh điển nhất về đề tài này, đó là “Parasite Rex” của Carl Zimmer.

Đối với những người còn vững tin vào những điều lãng mạn trong cuộc sống như tình yêu, chân lý, tâm hồn, sự tinh khiết, … thì quyển sách này sẽ gây ra nhiều cú sốc. Thế giới tự nhiên trong sách, thế giới của loài ký sinh trùng, không hề “lãng mạn” chút nào hết (nếu hiểu “lãng mạn” theo nghĩa thông thường). Chúng len lỏi ở khắp mọi nơi, từ đống phân, nước bọt, máu, ruột gan và cả não bộ của các động vật chủ, chống chọi với hệ thống miễn dịch, giao phối và đẻ trứng theo những kiểu “lạ đời” nhất. Đó là một thế giới hỗn loạn và xấu xí. Nhưng thế giới đó có thật.

Trải qua hàng tỉ năm tiến hóa, ký sinh trùng không chỉ là loài phổ biến nhất Trái Đất mà còn đứng nhất về phong phú về chủng loài và khả năng sinh tồn. Vì có vòng đời phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn mà ở mỗi giai đoạn chúng có hình dạng cấu tạo khác nhau và sống trong cơ thể của một loại vật chủ nhất định, ký sinh trùng đã phát triển được xảo thuật điêu luyện để đi tìm và đột nhập vào vật chủ, khống chế hệ thống miễn dịch và nhiều khi cả hệ thống thần kinh của vật chủ đó. Những sinh vật bé nhỏ và “đơn giản” này có thể triệt tiêu khả năng sinh sản của vật chủ, điều khiển vật chủ từ bên trong biến vật chủ trở thành một “bù nhìn” đi kiếm thức ăn và bảo vệ chúng. Thí dụ như có loài ong đẻ trứng vào bụng của sâu róm. Trứng nở ra ấu trùng ong bên trong bụng sâu róm, tiêu hóa “ruột gan” của sâu để sống. Con sâu tội nghiệp chỉ biết tranh thủ ăn càng nhiều càng tốt để đủ sức “nuôi” ấu trùng. Đến khi ấu trùng ong trưởng thành, chúng mổ bụng sâu chui ra ngoài và tạo kén. Con sâu bị biến thành một “bù nhìn” ngày đêm canh gác bảo vệ đám kén này. Đến khi kén lột xác thành ong con bay đi thì con sâu lăn đùng ra chết. Hoặc có loài ký sinh trong bụng cá, chúng điều khiển cá bơi gần mặt nước, thỉnh thoảng lật ngang bụng để “dụ” chim tới. Chim ăn cá, và ký sinh trùng chui vào bụng chim để trưởng thành.

Cuộc đấu tranh sinh tồn của ký sinh trùng còn nhiều phức tạp hơn thế. Có loài vi trùng biết đẻ số lượng trứng sao cho phù hợp với mật độ “dân số”, nếu chúng đẻ quá nhiều, cơ thể vật chủ sẽ suy nhược và chết, và chúng sẽ chết theo, do đó chúng phải đảm bảo khai thác vật chủ ở một giới hạn nhất định để vật chủ vẫn còn sống “ngáp ngáp”. Do đó ký sinh trùng đóng vai trò quan trọng trong điều tiết “dân số” của các loài. Sự xuất hiện hay biến mất của một loài ký sinh trùng nào đó có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng đến hệ sinh thái.

Hơn thế nữa, ký sinh trùng còn tham gia tích cực vào tiến hóa. Kết quả nghiên cứu mới đây đã khẳng định điều tác giả đề cập trong sách, đó là khi vật chủ tiến hóa thành các loài khác nhau thì ký sinh trùng cũng tiến hóa theo. Trường hợp ngược lại cũng có thể đúng, đó là dưới áp lực tấn công của ký sinh trùng, vật chủ phải tiến hóa để chống chọi tốt hơn. Một ví dụ “khó tin” nhất là sự hình thành giới tính. Ở những loài vừa có khả năng tự sao chép bản thân vừa có khả năng giao phối, khi chúng bị ký sinh trùng tấn công thì càng có khuynh hướng sinh sản bằng giao phối, mục đích để sinh ra nhiều biến dị mới có khả năng miễn nhiễm chống lại ký sinh trùng.

Và còn hàng chục câu chuyện ly kỳ khác nữa được trình bày mạch lạc. Mỗi mẩu chuyện trong sách là kết quả sau cả chục năm dài nghiên cứu của các nhà sinh vật học. Đó là công việc đòi hỏi sự cần cù tỉ mỉ và trên hết là sự yêu nghề vì những sinh vật ký sinh không những rất bé nhỏ, sống chui rúc vào ngóc ngách trong cơ thể của các loài khác mà chúng còn biến hóa liên tục. Sự phức tạp của ký sinh trùng cũng là cái tạo nên “nét quyến rũ” của chúng.

Quyển sách này mở ra cho chúng ta thấy rằng thế giới này thật sự rất phức tạp với bao điều chúng ta chưa khám phá hết. Những định kiến của chúng ta như quy luật tiến hóa từ sinh vật đơn giản đến phức tạp, sự đấu tranh sinh tồn, bản năng và bản chất của sinh vật, ý nghĩa của cuộc sống, etc, đều cần được xem xét lại dưới một lăng kính khác mà quyển sách này trình bày dưới góc độ của ký sinh trùng. Quyển sách này chắc chắn sẽ thay đổi thế giới quan của bạn, tin tôi đi!

06 August, 2014

Việt Nam Khai Quốc

BirthofVNTitle: The Birth of Vietnam
Author: Keith W. Taylor

Bản dịch: Việt Nam Khai Quốc
Dịch giả: Lê Hồng Chương, Đinh Từ Bích Thủy


Một quyển sách lịch sử rất hay và súc tích về 1000 năm đầu tiên của nước Việt từ thuở vua Hùng và các Lạc hầu đến khi nhà Đường kiểm soát toàn bộ vùng châu thổ sông Hồng. Như tiêu đề ghi rõ, đây là thời kỳ khai sinh và định hình dân tộc Việt, sự bùng nổ dân số, phát triển văn hóa từ làng xã lên phong kiến, từ truyền thống thờ cúng tổ tiên đến sùng bái đạo Phật và từ một nhóm ô họp các bộ lạc đến hình thành ý thức một cộng đồng chung.

Nói đến Lịch sử và sách lịch sử thì có lẽ nhiều người nghĩ đây là những thứ nhàm chán khô khan bị nhồi vào đầu óc non dại của trẻ nhỏ bằng hàng chục trang chữ ngổn ngang phải thuộc lòng. Xin thưa, quyển sách này hoàn toàn khác. Mặc dù nó vẫn có giá trị của một tài liệu khảo cứu kỹ lưỡng của Keith W. Taylor, giáo sư Sử học của Cornell chuyên về Sử Việt Nam, với rất nhiều nguồn tham khảo tin cậy của Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản, nhưng không vì thế mà quyển sách đánh mất tính thi vị của nó. Cách sắp xếp sự kiện nhân vật khéo léo cùng với lối hành văn mạch lạc đã khiến quyển sách như một “văn học sử”, kể một câu chuyện sinh động và xuyên suốt theo chiều dài lịch sử chứ không đơn thuần liệt kê ra những sự kiện.

Tinh thần chung mà tác giả muốn thể hiện qua quyển sách này là sự hình thành ý thức về một văn hóa bản địa của người Việt. Qua một ngàn năm Bắc thuộc nhưng người Việt vẫn giữ được tiếng nói và văn hóa của riêng mình. Những lãnh tụ của người Việt, dù xuất thân là người bản xứ hay gốc Trung Hoa, đều phải biết dựa theo phong tục, tinh thần bản địa để có thể cai trị vững vàng. Chính khuynh hướng này đã gắn kết các sự kiện lịch sử với nhau, tuy nhiên cũng vì vậy mà đôi khi tác giả khá gượng ép khi diễn đạt ý nghĩa các sự kiện. Một điều chúng ta cần nhớ khi theo dõi lịch sử là sự thiếu vắng cũng như thiếu chính xác của tài liệu số liệu mà sinh ra nhiều phỏng đoán theo cảm nghĩ chủ quan của người viết. Đây là thời kỳ “tăm tối” trong lịch sử Việt Nam vì thiếu rất nhiều tài liệu ghi chép được giữ lại đến ngày nay. Tác giả đã cố gắng lấp đầy những khoảng trống đó bằng những suy đoán đôi khi hơi chủ quan. Dẫu sao đi nữa thì việc đó cũng giúp tạo được một mạch lạc chung cho toàn quyển sách.

Một điều thú vị của quyển sách là việc khảo sát lịch sử Việt Nam trong bối cảnh chính trị của Trung Quốc. Chúng ta biết rằng đó là thời kỳ Bắc thuộc, Việt Nam được xem là một quận/châu của Trung Quốc. Do đó việc suy xét sử Việt Nam trong tương quan với sử Trung Quốc là một việc làm rất cần thiết để đảm bảo tính logic. Như sách đã dẫn ra nhiều thí dụ, các cuộc nổi dậy chống Trung Quốc của Việt Nam thời kỳ này chỉ xảy ra khi triều đình Trung Quốc bị suy yếu. Ngược lại, trong những thời kỳ hưng thịnh của phong kiến Trung Hoa thì tình hình của miền An Nam xa xôi cũng lắng dịu hẳn.

Dù đây là một quyển sách lịch sử rất hay và đáng đọc, nhưng tôi cũng xin có vài lưu ý. Đối với người Việt Nam, identity issue vẫn còn là một vấn đề rất to lớn. Quyển sách này động chạm tới phần nhạy cảm đó trong tâm hồn Việt qua việc cố giái thích nguồn gốc của dân tộc Việt. Mặc dù thông điệp của tác giả đa phần ủng hộ văn hóa bản sắc bản địa của người Việt, quyển sách sẽ không tránh khỏi nhiều chỗ “sự thật mất lòng”. Đối với những ai muốn nghiêm túc tìm hiểu về nguồn gốc của dân tộc mình với một tinh thần cởi mở thì đây là một quyển sách tuyệt vời cho mục đích đó. Ngược lại, những người trung thành với sách lịch sử do các nhà Sử học trong nước biên soạn xin đừng mất thời gian tìm hiểu thêm một góc nhìn dù chỉ hơi khác một chút.

Đọc một quyển sách không chỉ thu nhặt được những sự kiện có thật mà người đọc còn bị ảnh hưởng bởi tư duy của tác giả. Như đã đề cập ở trên, quyển sách này xét lịch sử của một quốc gia trong mối tương quan với các sự kiện ở các nước láng giềng để người đọc có cái nhìn toàn diện hơn. Đó là một tư duy lịch sử cần có của một người học nghiêm túc. Quyển sách còn phác họa những cuộc nổi dậy chống chính quyền Trung Quốc ở Việt Nam như những cuộc chiến tranh giành quyền lực cá nhân hơn là vì một lý tưởng ái quốc cao rộng nào đó (mà mãi đến tận thế kỷ 19, 20 mới dần được du nhập vào Việt Nam). Ngoài ra, những lãnh tụ được lòng dân, trị vì lâu dài đa phần là những người học rộng hiểu sâu, thường là từ Nho học mà ra, chứ không phải là những kẻ phàm phu lấy gươm đao làm công cụ.

Cuối cùng xin cho vài lời về bản dịch. Chúng ta cần lưu ý rằng dịch sách lịch sử, đặc biệt là lịch sử Việt Nam, từ một học giả phương Tây là một điều không hề dễ dàng. Chỉ riêng việc tìm lại tên các nhân vật bằng tiếng Trung hay tiếng Việt thôi cũng đã đòi hỏi người dịch phải có một vốn liếng kiến thức nhất định nào đó. Mặc dù có nhiều chỗ dịch/in sai và chọn từ ngữ chưa thật sự uyển chuyển, tôi cũng rất cảm kích hai dịch giả đã dày công biên dịch lại quyển sách này cho những người Việt lười đọc ngoại ngữ như tôi đây.

26 May, 2014

Mistakes were made (but not by me)

Mistakes Were Made (But Not by Me): Why We Justify Foolish Beliefs, Bad Decisions, and Hurtful Acts

Title: Mistakes were made (but not by me)
Authors: C.Tavris & E.Aronson


Hai nhà tâm lý học C.Tavris và E.Aronson dành trọn một quyển sách để bàn luận về một trong những hành động khó thực hiện nhất của con người: nhận lỗi! Cũng từ việc không thể nhận ra những sai sót của bản thân nên sinh ra biết bao rắc rối và đau khổ, từ chuyện nhỏ nhặt như cãi vã nhau đến cả chiến tranh.

Phần đầu của quyển sách sơ lược về lý thuyết “cognitive dissonance” mà hệ quả của nó là “self-justification” (tự bào chữa). Não bộ của chúng ta luôn có nhu cầu phải nhất quán mọi sự kiện, do đó tìm cách sửa đổi thông tin, tức cách chúng ta nhìn nhận và ghi nhớ sự kiện, sao cho có lợi cho mình nhất. Kết quả ai cũng nghĩ mình làm những điều đúng, bản thân ta là người tốt. Vậy ai là thủ phạm của mọi điều xấu xa?

Một sự thật kinh hoàng được bàn luận rất kỹ là trí nhớ của chúng ta không phải là nơi lưu trữ thông tin đáng tin cậy. Thực tế là trí nhớ bị sửa đổi, tẩy xóa rất nhiều lần tùy thuộc vào quan điểm mới của chúng ta. Thậm chí sự tồn tại của “trí nhớ giả” (false memory) lại rất phổ biến, người ta có thể “nhớ lại” những sự việc chưa hề xảy ra!

Phần sau của quyển sách vận dụng hai tính chất của bộ não ở trên để đi sâu vào vài thí dụ điển hình: Những người bị “trí nhớ giả” làm nhân chứng trong tòa án, thậm chí chính họ “tự thú” những tội ác họ không hề làm; cảnh sát ép cung nghi can; tòa án phán xét sai lầm; vợ chồng cãi nhau đến nỗi ly dị; xung đột giữa các nhóm người và chiến tranh. Tất cả đều có một điểm chung là sự bảo thủ, niềm tin tuyệt đối vào một giả thuyết mà ngay cả khi hậu quả xảy ra cũng không ai nhận ra mình đã sai. Hai trường hợp sau (hôn nhân và chính trị) thì tôi nghĩ rằng tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của lý thuyết “cognitive dissonance” hơi thái quá vì thực chất hai trường hợp này đều phức tạp hơn nhiều chứ không đơn thuần do người ta cố chấp mà ra.

Sách viết rất dễ hiểu và lôi cuốn với nhiều minh họa bằng những kết quả nghiên cứu nghiêm túc, những sự kiện có thật và nổi bật. Sau cùng, quyển sách thực sự rất bổ ích giúp chúng ta có cái nhìn khắt khe hơn với những niềm tin cố hữu của bản thân, tự chất vấn bản thân và có thể nhận ra sai sót để sửa chữa. Tất nhiên việc nhận ra sai lầm không phải là dễ dàng gì, nhưng ít ra biết được cơ chế của ngụy biện và bảo thủ sẽ giúp chúng ta cảnh giác với chúng hơn rất nhiều. Tôi cũng đã qua cái thời thích đọc một câu chuyện nhỏ rút ra một (vài) bài học lớn, bây giờ tôi thích đọc một quyển sách dày nhưng chỉ tập trung vào một bài học nhỏ thôi, và đây là một quyển như thế.

28 April, 2014

Little Monsters

Little Monsters: The Creatures that Live on Us and in Us: The Creatures that Live on Us and in Us

Title: Little MonstersThe creatures that live on us and in us
Author: Albert Marrin


Một quyển sách rất súc tích, phong phú nội dung và minh họa và rất dễ hiểu về ký sinh trùng, những sinh vật sống bám trên cơ thể của các động vật khác, đặc biệt là con người. Được viết chủ yếu cho độc giả thiếu nhi, cách trình bày của sách rất mạch lạc, sáng sủa, dễ hiểu, không đi quá sâu vào chuyên môn cũng như không sử dụng quá nhiều thuật ngữ. Nội dung sách sơ lược về bộ môn nghiên cứu ký sinh trùng, phương pháp và những bác sĩ, nhà nghiên cứu nổi bật, tiếp đến sách đi vào giới thiệu vài loài ký sinh phổ biến và các căn bệnh nguy hiểm do chúng gây nên. Vài trang cuối của sách dành do giáo dục vệ sinh cá nhân để phòng tránh ký sinh trùng.

Cách đây một ngàn năm khi kính hiển vi chưa xuất hiện, người ta có hiểu biết cực kỳ hạn chế về sinh vật và bệnh tật. Họ nghĩ ruồi sinh ra từ xác chết, chuột gián nảy nở từ trong bãi rác, và bệnh tật là do Chúa trời trừng phạt người có tội lỗi và cách chữa bệnh phổ biến là … cầu xin Chúa tha tội. Đồng thời cũng phổ biến một cách trị bá bệnh bằng cách rút bớt máu “độc” trong người ra (“cạo gió”). Thực ra hiện nay những quan niệm này vẫn còn phổ biến ở Việt Nam.

Từ khi kính hiển vi ra đời cho phép các bác sĩ và nhà khoa học quan sát những sinh vật tí hon, tế bào và tìm hiểu cách lan truyền của bệnh tật, cùng với nỗ lực to lớn (và mạo hiểm) của nhiều nhà nghiên cứu, sau cùng bí ẩn đằng sau dịch bệnh đã dần được làm sáng tỏ. Đến nay người ta ước lượng có đến 80% sinh vật trên trái đất sống bằng cách ký sinh. Mỗi loài là ký sinh của loài này, nhưng đồng thời cũng là vật chủ của nhiều loài ký sinh khác. Con người chúng ta cũng đang nuôi dưỡng hàng ngàn con rận trên da, tóc, giun trong ruột và vi khuẩn trong máu.

Nhiều loài ký sinh có sức lan truyền rất mạnh mẽ và nguy hiểm cho tính mạng con người. Muỗi vằn lây truyền bệnh sốt xuất huyết được coi là thủ phạm cướp đi nhiều nhân mạng nhất trong lịch sử loài người, nhiều hơn tất cả những yếu tố khác (bom đạn, đói kém,… ) cộng lại! Bệnh dịch hạch gây ra bởi chuột (và bọ chét của con chuột, và con vi khuẩn sống trong con bọ chét) từng đào mồ chôn 1/3 dân số châu Âu trong một trận đại dịch kinh hoàng.

Nhưng có thời loài bọ chét và rận được xem là “thú cưng” của các nhà quý tộc châu Âu. Họ nuôi bọ chét để làm cảnh, thậm chí một thi sĩ còn xem việc con rận hút máu mình và người yêu là “máu đôi ta hòa quyện vào nhau không bao giờ chia lìa”. Một bộ tộc bên Nga có phong tục cầu hôn bằng cách … ném rận vào người yêu! Thậm chí bên Thụy Điển người ta dùng bọ chét để bầu cử (ứng cử viên ngồi xung quanh bàn tròn, thả con bọ chét vào chính giữa, nó nhảy vào người nào thì người đó đắc cử!).

Đa số các loài ký sinh đều có vòng đời rất phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn chuyển hóa trên các vật chủ khác nhau. Do đó chúng cũng phát triển nhiều “tiểu xảo” để thích nghi tốt nhất. Loài đỉa có chất chống đông máu và giảm đau trong nước bọt khiến chúng ta không hề có cảm giác bị chúng cắn và hút máu. Nhiều loài giun chui vào cơ bắp của vật chủ (heo, bò), tự bọc mình trong những bộ “áo giáp” mà chỉ nước bọt của loài ăn thịt (như con người) mới làm tan chúng ra để chúng sống và trưởng thành bên trong ruột của vật chủ mới. Thậm chí có loài ký sinh của cá vì muốn chui vào bụng của loài cò nên tiết ra hóa chất khiến con cá bơi gần mặt nước tạo thuận lợi cho cò ăn thịt.

Đó chỉ là vài ví dụ trong hàng loạt mẩu chuyện cực kỳ lý thú được trình bày trong quyển sách bé nhỏ này. Tôi chắc chắn rằng mỗi trang sách là một khám phá đầy bất ngờ cho các độc giả nhỏ tuổi lẫn người lớn.

15 April, 2014

The Physicists

The PhysicistsTitle: The PhysicistsA generation that changed the world.
Author: C.P.Snow
Published in 1981

C.P.Snow là nhà Vật lý người Anh, hoạt động trong kỹ thuật quân sự thời Thế chiến và về sau trở thành nhà văn viết truyện khoa học viễn tưởng. Trong năm cuối đời ông soạn thảo quyển sách này và nó được xuất bản sau khi ông mất.

Quyển sách dựng lại bối cảnh khoa học và chính trị xã hội thời cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20. Đó là thời kỳ hoàng kim của Vật lý khi những mầm mống cho các phát minh vĩ đại được nảy chồi, Vật Lý cổ điển chuẩn bị được thay thế bởi một hệ thống Vật Lý mới chính xác hơn, sâu rộng hơn. Mở đầu là các phát hiện chấn động thế giới về cấu tạo của vật chất, về electrons, hạt nhân nguyên tử, protons, neutrons, về vật liệu phóng xạ. Sang đầu thế kỷ 20, nghiên cứu về không-thời gian và sự hợp nhất của năng lượng và khối lượng của Einstein đã thay đổi thế giới hoàn toàn bằng sự ra đời của bom nguyên tử và bom nhiệt hạch.

Tác giả lật lại những phát minh vĩ đại trong Vật Lý có ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử loài người trong không khí hưng phấn trước nhiều cơ hội mới của các khoa học gia và tình trạng căng thẳng về chính trị. Dự án Manhattan chế tạo bom nguyên tử của Mỹ, hai quả bom nguyên tử thả xuống Nhật Bản và cuộc chạy đua vũ trang hậu Thế chiến đã đưa các nhà Vật lý vào tâm điểm của thế kỷ 20. Trong phần phụ lục có bài phát biểu cực kỳ sâu sắc và ấn tượng của chính tác giả về đạo đức và trách nhiệm với xã hội của các nhà Vật lý.

Như một người kể chuyện, quyển sách lần lượt điểm qua những nhân vật và sự kiện quan trọng một cách mạch lạc, trôi chảy và có phần lãng mạn (điểm khác biệt so với nhiều quyển sách khô khan về lịch sử khoa học). Các Vật lý gia được mô tả như những con người bình thường (chứ không phải robot hay kẻ lập dị như nhiều người tưởng tượng), có tình cảm riêng tư, có cá tính, ưu và nhượt điểm. Xung quanh các nhân vật, sự kiện đó là những lời đồn đại, tranh luận, dị nghị của đồng nghiệp và những người ngoại đạo. Tất cả những điều này tạo nên một khung cảnh toàn diện, náo nhiệt của Vật Lý thế kỷ 20.

Tuy nhiên, nhiều phần trong quyển sách còn khá sơ sài, chưa hoàn chỉnh, nhiều đoạn không rõ ý tác giả muốn nói gì. Có lẽ là vì tác giả viết bản thảo này hầu hết từ trí nhớ chứ chưa kịp tra cứu tư liệu như trong lời nói đầu đã nói trước. Nếu tác giả đầu tư được nhiều thời gian hơn thì tôi nghĩ đây sẽ là một trong những quyển sách lịch sử Vật Lý hay nhất. Một điểm nữa, tác giả là người Anh và là nhà văn nên tiếng Anh sử dụng trong quyển này khá hoa mỹ, cầu kỳ khiến tôi phải đọc mỗi câu văn hai ba lần mới hiểu.

16 March, 2014

Đất Gia Định xưa

Tiêu đề: Đất Gia Định xưa
Tác giả: Sơn Nam
Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh (năm 198x)
--------------------------------------------------

(hình lấy từ sachxua.net)
Tên gọi Gò Vấp vì nơi ấy xưa kia là một ngọn đồi trồng nhiều cây vấp. Tương tự, vùng Hóc Môn trước đây chính là một cái hóc trồng nhiều cây môn. Cũng như thế, Bến Tre đất cũ chính là nơi trồng rất nhiều tre (sao không gọi Bến Dừa nhỉ? Chứng tỏ hồi xưa tre ở đây phải nhiều lắm lắm). Còn cù lao ông Chưởng mang ý nghĩa tưởng niệm Chưởng cơ Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh...

Những chi tiết thú vị như vậy các bạn có thể tình cờ tìm thấy trong cuốn "Đất Gia Định xưa" này đây. Nhưng địa danh chỉ là một trong nhiều minh họa nhỏ cho những nội dung lớn hơn được nêu trong cuốn sách, đó là viết về vùng đất Gia Định xưa, vào cái thuở vừa được khai hoang lập ấp cho tới khi nên dáng nên hình. Thực ra, sách không chỉ nói riêng vùng Gia Định (một phần của Sài Gòn, Tp. Hồ Chí Minh sau này) mà còn mở rộng ra cho khắp cả vùng Nam Bộ.

"Việc khẩn hoang rõ ràng là diễn ra rất phức tạp."

Từ xa xưa, vùng đất này đã có một số tộc người sinh sống. Nhưng trải qua năm tháng, họ rốt cuộc đã không thể chịu đựng được cảnh nước nôi lũ lụt và điều kiện thiên nhiên còn quá hoang sơ nơi này nên mới bỏ đi lên vùng đất cao ráo hơn, chính là vùng Biển Hồ (Campuchia) ngày nay. Chỉ từ khi dân Việt từ miền ngoài vào đây, cộng thêm một số người Hoa... vượt biển tìm tới, đã cải tạo thành công vùng phèn chua, ngập úng, nước lớn nước ròng này thành những làng quê trù phú, ruộng đồng thẳng cánh có bay. Họ đã đem sức người đào vét tạo nên một hệ thống chằng chịt những kênh mương mới, cải tạo lại dòng chảy, chiến đấu với cá sấu, cọp hùm, và tìm mọi cách để có thể tận dụng ưu thế màu mỡ phù sa của đất đai để rồi sinh tồn và phát triển ngày một đông đúc, giàu có. Biết được như vậy, ta càng thêm trân trọng và kính phục công lao của ông cha thuở xưa đã lao động quên mình, để lại cho con cháu ngày nay một dải giang sơn đẹp hơn lụa là gấm vóc.

Một nội dung lớn khác cũng được nêu bật trong sách đó là sự tổ chức xã hội từ thấp (làng, xã, thôn, ấp) tới cao (trấn, phủ, tỉnh) ở vùng Nam Bộ xưa. Những người di dân vào đây vốn thuộc rất nhiều thành phần, tầng lớp, kẻ giàu người nghèo, quý tộc, bần nông, những phường thảo khấu, hay phạm nhân đi đày, hoặc kẻ chạy trốn... đều có cả. Nhưng đa phần trong số họ là những con người có dũng khí, khi ra đi mang theo một niềm hi vọng lớn lao về cuộc đời mới bớt khốn khó hơn, được tự do hơn. Tác giả đã rất kì công khi đưa vào sách khá nhiều số liệu, dẫn chứng nhằm minh họa cho tình hình xã hội lúc bấy giờ, từ số lượng làng ấp được lập thành ở một số địa phương chính, số hộ dân trong các làng ấp, diện tích các sở ruộng của những điền chủ, đại điền chủ có tiếng thời đó, hay tiền lương được nhận và tô thuế phải nộp của tá điền và dân lao động... Thiết nghĩ đây là một tài liệu hữu ích và cơ bản cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về Nam Bộ xưa, hoặc chỉ đơn giản là để có thể hiểu cặn kẽ hơn mỗi khi đọc truyện hay xem phim của Hồ Biểu Chánh.

Tác giả cuốn sách này là một nhà nghiên cứu rất am hiểu về Nam Bộ, nhà văn Sơn Nam. Tên tuổi của ông có lẽ đã quen thuộc với nhiều người trong chúng ta. Ông còn được gọi bằng những danh xưng gần gũi như "Ông già Nam Bộ", hay "Nhà Nam Bộ học"... Riêng với tôi, điều khiến tôi cảm thấy lôi cuốn hơn khi đọc "Đất Gia Định xưa" đó chính là cái duyên cái nợ cái tình của bản thân với vùng đất phương nam này. Vốn quê gốc bắc, sinh trưởng ở trung, nhưng từ khi vào Sài Gòn đi học, có nhiều dịp được sống cùng những con sông cái nước đã khiến tôi yêu tự bao giờ con người và cảnh vật miền nam. Có khi tôi tự hỏi, không biết có phải kiếp trước mình chính là một người con của Nam Bộ không nữa, mà sao giờ gặp mặt lại cảm thấy rất đỗi thân thuộc yêu thương.
Tôi thật sự thích cuốn sách này, một tài liệu nghiên cứu có giá trị, một cuốn sách tham khảo thú vị và hữu ích. Biết đâu, bạn cũng sẽ thế!